CHIẾC “NỎ THẦN” VIỆT NAM

23 Th4

Bài của tác giả Amari_tx

CHIẾC “NỎ THẦN” VIỆT NAM

Tháng Tư 21, 2012
Trí tuệ ngoại giao của Việt Nam từng được vận dụng vô cùng khéo léo trong các cuộc chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước của cha ông ta hàng ngàn năm qua. Ngày nay, khái niệm đó của Việt Nam lại được sử dụng khéo léo trong cuộc đấu tranh chống sự bành trướng trên biển đông của Trung Quốc rất gần gũi với quan điểm “dĩ đức phục nhân”, lấy đức để thu phục lòng người trong tư tưởng phương Đông. Trong lịch sử giữ nước, có thể coi Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là áng văn đỉnh cao thể hiện sức mạnh của người Việt Nam với tư tưởng “Đem đại nghĩa thắng hung tàn; Lấy chí nhân thay cường bạo”.
Thế kỷ XI, Lý Thường Kiệt nói:
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
Thế kỷ XV, Nguyễn Trãi khẳng định:
“Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Cõi bờ sông núi đã riêng, Phong tục Bắc, Nam cũng khác, Mạnh yếu tuy có lúc kthác nhau, Nhưng hào kiệt không bao giờ thiếu”.
Thế kỷ XVIII, Nguyễn Huệ kêu gọi:
“Đánh cho nó chích luân bất phản Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.
Và năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho cả dân tộc, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới:
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.
Kẻ thù đã thử thách sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam một cách tàn khốc và lịch sử là bằng cứ hùng hồn chứng minh rằng “dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng”  Bốn nghìn năm giữ nước của dân tộc ta là một thiên  anh hùng ca rạng rỡ với biết bao chiến công oanh liệt chống ngoại xâm.
   Nguyễn Trãi : Anh hùng dân tộc ,danh nhân văn hoá thế giới
Trong Bình Ngô Sách dâng lên Lê Lợi trình bày sách lược đánh đuổi quân Minh, Nguyễn Trãi đã vạch ra nền tảng tư tưởng cho toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn bằng chiến lược phối hợp nhịp nhàng ba mặt trận là chính trị, binh vận và ngoại giao, nêu cao chính nghĩa dân tộc và sức mạnh quyết định của nhân dân để giành chiến thắng.
Đó là kế đánh vào lòng người, không xông trận mà vẫn khuất phục được đối phương (Ngã mưu phạt nhi công tâm, bất chiến tự khuất). Chiến lược hòa bình của ông cha ta được thể hiện một cách nhuần nhuyễn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn. Khi 10 vạn quân Vương Thông bị quân ta vây hãm ở thành Đông Quan, nếu Lê Lợi và Nguyễn Trãi hạ lệnh tấn công, chắc chắn quân giặc sẽ bị tiêu diệt sạch. Nhưng tư tưởng “lấy chí nhân thay cường bạo”, bằng chiến lược hòa bình Lê Lợi và Nguyễn Trãi chủ trương “dập tắt muôn đời chiến tranh – mở nền thái bình muôn thuở” đã mở đường cho quân Minh rút về nước với Hội thề Đông Quan lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến. Đó là một cách kết thúc chiến tranh độc đáo, sáng tạo, sáng ngời nhân nghĩa gắn liền với chiến lược hòa bình của ông cha ta.
Từ xưa đến nay dân tộc Việt Nam đã đề cao kế sách nuôi dưỡng nhân hòa để thu phục nhân tâm, củng cố nền độc lập. Một xã hội mà tất cả những mục tiêu mà lợi ích được phân chia hài hòa; trên dưới chung sống thuận hòa, thì mọi mâu thuẫn tất được dung hòa. Lập lại trật tự, công bằng xã hội, đấy là nhân hòa. Có nhiều chính sách dưỡng nông, dưỡng công, dưỡng thương, khoan sức dân, hướng tới số đông, chăm lo hạnh phúc nhân dân, thu hẹp dần khoảng cách giàu-nghèo, đấy là nhân hòa… Nhân hòa để xóa bỏ định kiến và mặc cảm, để hướng thiện, đề cao trí tuệ, dung dưỡng tài năng, quy tụ hiền tài, phát triển nhân tài…
Nhân hòa, là động lực và sức mạnh của đoàn kết, là cốt lõi của mọi thành công, là bức tường thành vững chắc bảo vệ nền độc lập.
.
Do điều kiện địa lý, Việt Nam trở thành chướng ngại tự nhiên của Trung Quốc trên con đường chiếm lĩnh Biển Đông để vươn ra Thái Bình Dương. Lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông ta đã để lại nhiều bài học quý giá và phù hợp với thực tế khách quan của một đất nước khiêm nhường buộc phải tồn tại và phát triển bên cạnh một người hàng xóm khổng lồ và đầy tham vọng.
Ngày nay, trước sự xuất hiện của một siêu cường Trung Quốc đang lên, tham vọng bành trướng và cách hành xử hung hăng của họ trong thời gian gần đây đã gây quan ngại sâu sắc cho cộng đồng thế giới, đặc biệt là tình hình an ninh và tự do hàng hải trên Biển Đông.
Tuy nhiên, thực tế đó, theo các nhà phân tích lại tạo thêm một thời cơ thuận lợi cho Việt Nam, với truyền thống độc lập tự chủ, yêu chuộng hòa bình và khát vọng vươn lên đang được minh chứng bằng sự đổi mới mạnh mẽ hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Có thể nói, tình thế hiện nay thúc đẩy sự mong muốn của cộng đồng thế giới trước sự “trỗi dậy” đầy đe dọa của Trung Quốc là cần thiết xuất hiện một Việt Nam mạnh mẽ, trở thành một quốc gia cầu nối có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển.
Tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” bằng yêu sách “đường lưỡi bò” bao chiếm 80% Biển Đông của Trung Quốc trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cùng với các hành động hung hăng đe doạ gần đây của nước này trên Biển Đông dù dân tộc Việt Nam muốn hay không muốn cũng đã đặt dân tộc Việt Nam vào một tình thế buộc phải đối phó.
Trong thời kỳ đối đầu, sức mạnh của các quốc gia thường được cân đong đo đếm bởi sức mạnh quân sự và kinh tế, tức là “sức mạnh cứng”. Dù vậy, “sức mạnh mềm” quốc gia vẫn không thể xem nhẹ, mà những bài học lịch sử về chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước là một minh chứng. Đó là một trong những câu chuyện hấp dẫn và sống động nhất, thu hút được những tình cảm và sự ủng hộ to lớn của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới dành cho Việt Nam. Sức mạnh ấy góp phần không nhỏ vào thắng lợi của Việt Nam trên mặt trận ngoại giao, làm tiền đề cho những chiến thắng quân sự, giúp non sông Việt Nam quy về một mối.
Về lâu dài, dân tộc ta ngày nay vẫn phải noi gương cha ông mình “đem đại nghĩa thắng hung tàn”, phải có bản lĩnh và thực lực để thực hiện được bài học này, phải thúc giục nhau làm cho đất nước sớm giầu mạnh lên để mau chóng trở thành một quốc gia mẫu mực trong việc “lấy chí nhân thay cường bạo”.

Giữ nền độc lập không chỉ bằng ý chí và máu xương, mà còn bằng bản lĩnh, trí tuệ. Kém hơn người, yếu hơn người dễ bị lệ thuộc, dễ bị chi phối, thậm chí là dễ bị bắt nạt. Bằng trí tuệ, bản lĩnh để vươn lên bằng người, để bình đẳng với người. Bản lĩnh định hướng, trí tuệ soi đường.
Độc lập dân tộc không có nghĩa là dân tộc mình đứng riêng một cõi, mình chỉ biết mình, mà độc lập dân tộc để mở ra với thế giới, hội nhập với thế giới rộng lớn bao la, để có cơ hội thu nhận thêm nguồn lực, để thêm bạn bớt thù, củng cố nền độc lập.
Chiến lược hòa bình của Việt Nam luôn là thành tố quan trọng trong tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Ngày nay, trước sự đe dọa, hung hăng của việc áp đặt yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc trên Biển Đông, Việt Nam vẫn luôn giữ vững tinh thần “dĩ bất biến” kiên trì tìm cách giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hòa bình, tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia liên quan và tôn trọng các giá trị văn minh của nhân loại, tức là luôn luôn coi trọng đàm phán và giải quyết vấn đề trên nền tảng công pháp quốc tế.
Trong mối quan hệ với người láng giềng khổng lồ, cần lưu ý rằng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hay bất kỳ phản ứng cảm tính nào khác đều là sai lầm, chẳng hạn như tâm lý bài Trung Quốc, chỉ làm mất đi sự tỉnh táo cần thiết và chỉ có thể gây thêm nguy hại mới cho đất nước. Mặt khác, nuôi dưỡng tinh thần hữu nghị và hợp tác láng giềng tốt với Trung Quốc đòi hỏi rất nhiều nỗ lực lớn, trong đó cần thiết phải hết sức tỉnh táo, kiên trì và dũng cảm. Lịch sử quan hệ hai nước Việt-Trung ghi lại nhiều trang lẫm liệt, ngay sau khi đưa được “khách không mời mà đến” ra khỏi nhà mình, Việt Nam đã phải nghĩ đến cầu hòa.
Không ai có thể phủ nhận nhân dân ta có nguyện vọng sâu xa và truyền thống quý báu trong xây dựng mối quan hệ đời đời này với Trung Quốc. Bản lĩnh ấy ngày nay càng quan trọng hơn bất cứ giai đoạn nào khác. Ngoại giao dấn thân vì lợi ích quốc gia, dân tộc và có trách nhiệm với thế giới chính là một nền ngoại giao mạnh của một quốc gia có nền nội trị lành mạnh và đầy sức sống. Và cũng chỉ một nền ngoại giao dấn thân như thế mới bảo vệ được đất nước ta và luôn luôn tạo ra cho nước ta sức phát triển mới.
Không thể ngồi chờ đợi và cũng sẽ không có chuyện một ngày đẹp trời Trung Quốc bỗng nhiên rút yêu sách “đường lưỡi bò”. Nhưng ngoại giao dấn thân và thái độ công khai minh bạch có thể huy động được dư luận trong nước và thế giới ngăn cản sự lấn tới của Trung Quốc, và trên cơ sở đó tiếp tục giữ được hòa bình trên Biển Đông, mở đường cho những triển vọng mới sau này. Đây còn là hướng đi cụ thể thúc đẩy quá trình hoàn thành Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), cũng như tiến tới các hiệp định về hòa bình và an ninh khu vực có tính ràng buộc pháp lý cụ thể và chặt chẽ hơn.
Các nhà nghiên cứu lịch sử đều cho rằng, cái gốc của sức mạnh dân tộc Việt suy cho cùng là sự đồng lòng, là kết tinh của sự đoàn kết thống nhất toàn dân tộc. Nhưng muốn có sự đồng lòng, phải biết bao dung, biết dung hòa những khác biệt để hợp sức cho mục tiêu chung là sự giàu mạnh, phát triển bền vững cho muôn đời con cháu mai sau của cộng đồng dân tộc. Một trong những thành tố của sức mạnh tổng hợp tạo nên “sức mạnh mềm” của quốc gia trong lĩnh vực nội trị được cha ông chúng ta sử dụng trong suốt chiều dài lịch sử là sự khoan thư sức dân, lấy dân làm trọng, ý niệm mạnh mẽ về chính nghĩa của dân tộc.
Với những điều đó, cha ông chúng ta đã phát huy và động viên được tất cả những tiềm năng, sự sáng tạo của mỗi thành viên trong cộng đồng trên mọi lĩnh vực từ kinh tế – xã hội đến quân sự – quốc phòng và văn hóa – nghệ thuật. Lịch sử cho thấy, thời đại nào nắm vững và thực hành nghiêm túc bài học nội trị như trên luôn là thời thịnh trị với minh quân, thế nước vững chắc cùng sự no ấm của muôn dân khiến cho bao nhiêu mưu toan xâm lược đều phải tiêu vong.
Trước những hành xử hung hăng của Trung Quốc trong âm mưu bá chiếm Biển Đông, áp đặt yêu sách “đường lưỡi bò” phi pháp và phi khoa học, trong tư thế tự vệ chính nghĩa, chủ trương giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, chủ trương cùng hợp tác, ổn định và phát triển với các nước liên quan của Việt Nam đang thực sự chuyển hóa thành “sức mạnh mềm”.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang sở hữu một bề dày lịch sử oai hùng, bất khuất được khắc ghi bởi những người con anh hùng của dân tộc, anh dũng hy sinh trong suốt chiều dài hàng mấy thế kỷ qua để thực thi chủ quyền thiêng liêng của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong đó mãi mãi khắc ghi hình ảnh những dân binh của các hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải từ thời các vua chúa nhà Nguyễn đến các binh sĩ Việt Nam Cộng hòa tử trận năm 1974 trong cuộc hải chiến Hoàng Sa, các chiến sỹ Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam kiên cường, bất khuất cùng nắm tay nhau thành “vòng tròn bất tử” coi nhẹ cái chết trong cuộc chiến bảo vệ Trường Sa năm 1988…
Từ xưa đến nay dân tộc ta đã đề cao kế sách nuôi dưỡng nhân hòa để thu phục nhân tâm, củng cố nền độc lập. Một xã hội mà tất cả những mục tiêu đặt ra đã và đang trở thành hiện thực, một xã hội mà lợi ích được phân chia hài hòa; trên dưới chung sống thuận hòa, thì mọi mâu thuẫn tất được dung hòa.
Nhân hòa, là động lực và sức mạnh của đoàn kết, là cốt lõi của mọi thành công, là bức tường thành vững chắc bảo vệ nền độc lập.
Sức mạnh ngoại giao hoà bình của Việt Nam cũng cần được hỗ trợ bởi truyền thông tích cực và kiên trì. Cần phải làm cho mỗi người Việt Nam trong và ngoài nước, cộng đồng thế giới, kể cả nhân dân Trung Quốc hiểu rõ sự thật lịch sử và cơ sở pháp lý quốc tế về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; hiểu rõ về chủ trương “dĩ bất biến ứng vạn biến” kiên trì với chiến lược hòa bình của người Việt Nam trong việc giải quyết mọi tranh chấp quốc tế; kế thừa và thực hiện sáng tạo tư tưởng của cha ông “Đem đại nghĩa thắng hung tàn; Lấy chí nhân thay cường bạo” để “mở nền thái bình muôn thuở” không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn vì hòa bình, ổn định, hợp tác và cùng phát triển trong khu vực cũng như trên toàn thế giới.

Houston 4-20-2012
Amari tx
Advertisements

3 phản hồi to “CHIẾC “NỎ THẦN” VIỆT NAM”

  1. amaritx Tháng Tư 23, 2012 lúc 5:52 sáng #

    Tôi đoán đúng lão vào nhà tôi , uống rượu say rồi coppy bài , tôi thấy bài Chiếc NỎ THẦN VN là hợp với lão nhất . Bài này tôi mất nhiều trí lực để phan tích nó , lão thấy ok không ?
    Đầu bài phải ghi là tác giả chứ ko phải là độc giả .Thanks

  2. nguyenvanlongwdckbchn Tháng Tư 23, 2012 lúc 6:03 sáng #

    Ồ, đúng rồi đại tá. Bài này hợp với lão. Chắc nào đại tá mất nhiều trí lực vào đây, ha ha. Sẽ sửa theo yêu cầu đại tá. Đại tá dạo này năng nổ quá ha ha. Comments như liên thanh, ha ha.

  3. vuhoangha Tháng Tư 23, 2012 lúc 7:58 sáng #

    Đại tá viết hay quá phân tích đều trúng phóc .Thằng TQ nó đưa đường lưỡi bò nó biết là phi pháp nhưng nó vẫn làm vì nó muốn giây như thế được thì tôt mà không được cũng không sao ,nó thể hiện nó là bề trên nói láo cũng không ai dám phản đối ,nó cũng muốn thăm dò xem chúng ta phản ứng ra sao ,và muốn nói cho thế giới biết nó là anh chàng to lớn !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: